Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012



Bình An Trong Tâm Hồn

Purna, một môn đệ của Đức Thích Ca, xin thầy được phép đi đến Sronapa-Ranta, một vùng còn bán khai để tiếp tục tu luyện và truyền đạo. Nhân lời xin này, người ta ghi lại cuộc đối thoại giữa hai thầy trò như sau: Đức Thích Ca cho biết ý kiến: "Nhân dân vùng Sronapa-Ranta còn rất man di. Họ nổi tiếng thô bạo và tàn ác. Bẩm tính của họ là hiếu chiến, thích gây sự, thích cãi vã, đánh nhau và làm hại kẻ khác. Lúc đến đó, nếu họ nghi kỵ con, dùng những lời thô bạo để nói xấu, mắng chửi và vu khống con, con sẽ nghĩ thế nào?". Purna thưa: "Nếu thật sự xảy ra như vậy, thì con nghĩ là: dân chúng tại đây thật tốt lành và thân thiện, vì họ chỉ lăng mạ con chứ không dùng vũ lực, không đánh đập hay ném đá con". Đức Thích Ca tiếp lời: "Nhưng nếu họ hành hung và dùng đá ném con, thì con sẽ nghĩ thế nào?". Purna thưa: "Trong trường hợp đó, con vẫn nghĩ dân chúng vùng Sronapa-Ranta thật tốt lành và thân thiện, vì họ không cột con vào cột để đánh đòn và không dùng khí giới sắc bén để sát hại con".
Nghe môn đệ xác quyết như thế, Đức Phật không khỏi ngạc nhiên; Ngài hỏi tiếp: "Nhưng nếu họ thật sự ra tay giết con, con nghĩ thế nào trước khi nhắm mắt lìa đời?". Không cần suy nghĩ lâu, Purna đáp: "Nếu họ hại đến tính mạng con, con vẫn nghĩ họ là những người tốt lành và thân thiện, vì họ muốn giải thoát con khỏi thân xác hay hư nát này". Nghe đến đây, Đức Thích Ca bảo: "Purna, con đã tu tâm dưỡng tính đến nơi đến chốn để có được sự ôn hòa, kiên nhẫn hơn người. Thầy nghĩ con có thể sinh sống và truyền đạo cho dân Sronapa-Ranta. Hãy ra đi và giúp họ dần dần giải thoát khỏi bẩm tính hiếu chiến và bất nhân như chính con đã tự giải thoát mình khỏi những thiên kiến và những ý nghĩ hận thù, ghen ghét".
Thiết nghĩ tự tạo cho mình sự bình an trong tâm hồn là bổn phận của Kitô hữu chúng ta. Và theo kinh nghiệm của tu sĩ Purna trong câu chuyện trên, để tạo cho mình nền hòa bình này, chúng ta phải cố gắng tự giải thoát mình khỏi mọi thiên kiến, nghi kỵ cũng như hằng ngày phải thanh luyện tâm hồn khỏi những ý nghĩ hận thù, ghen ghét.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Kiếm Ve Sầu


02 Tháng Tư
Ve Sầu Kêu Ve Ve

"Ve sầu kêu ve ve, suốt mùa hè. Đến kỳ gió bấc thổi, nguồn cơn thật bối rối...".
Trên đây là bốn câu đầu trong bài thơ mà cụ Nguyễn Văn Vỉnh đã dịch từ chuyện ngụ ngôn "Con ve và con kiến" của thi sĩ Pháp La Fontaine.
Ở Việt Nam chúng ta cũng như tại nhiều nước trên thế giới, cứ mỗi độ hè về là ve sầu xuất hiện và kêu inh ỏi.
Theo sinh vật học thì có đến 23 loại ve sầu, mỗi loại có chu kỳ khác nhau: loại 2 năm, loại 3 năm, loại 17 năm v.v... Trước khi xuất hiện trên mặt đất, ve đã làm kiếp nhộng sống ngầm dưới đất đến 17 năm. Ngay sau khi ra khỏi trứng, nhộng đã chui xuống đất và sống yên lặng 17 năm.
Sinh vật học còn cho rằng, khi chu kỳ 17 năm chấm dứt, các con nhộng này có thể nghe được một tín hiệu bí mật kêu chúng ra khỏi lòng đất và hàng trăm triệu con nhộng đã đáp lại tiếng kêu gọi đó, bò lên mặt dất, tìm cây cối hay vật gì thẳng gốc với mặt đất để bám chặt vào, rồi lột vỏ, biến thành con ve với hai cánh dài để bay... Nhưng cuộc sống của ve rất ngắn ngủi: vì chúng chỉ sống được năm tuần lễ vừa đủ để làm một công tác duy nhất là đẻ trứng rồi chết.
Kiếp sống của con ve sầu có thể làm cho chúng ta liên tưởng đến cuộc đời của Chúa Giêsu: trong 33 năm sống kiếp con người, Ngài đã sống ẩn dật đến 30 năm.
Nếu đối với kiếp ve sầu, 17 năm sống dưới đất như nhộng không phải là vô ích, thì với Chúa Giêsu, 30 năm sống ẩn dật của Ngài cũng mang một ý nghĩa và giá trị đặc biệt. Kiếp sống lam lũ của người thợ mộc, những vất vả trong cuộc sống hằng ngày: tất cả đều mặc cho cuộc sống con người một ý nghĩa.
Chúa Giêsu đến để chiếu rọi ánh sáng vào cuộc sống con người. Ánh sáng đầu tiên đã được chiếu rọi vào cuộc sống chúng ta chính là những năm tháng ẩn dật ấy của Chúa Giêsu. Trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ hiểu dược dù nghèo hèn đến đâu, dù tối tăm đến đâu, công việc từng ngày của chúng ta là những đóng góp vào công cuộc cứu rỗi của Chúa. Con ve sầu phải tôi luyện trong suốt 17 năm trời mới có thể xuất hiện để sinh ra một mầm sống mới. Những lam lũ vất vả từng ngày của người Kitô chúng ta cũng có sức mang lại mầm sống mới cho rất nhiều người.
Ước gì ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu rọi vào cuộc sống của chúng ta, để, dù vất vả lao nhọc và đau khổ từng ngày, chúng ta luôn vui vẻ tiến bước vì tin rằng cuộc sống của chúng ta đang mang lại sức sống cho nhiều người.

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

LẼ SỐNG 4



LẼ SỐNG 4

01 Tháng Tư
Tu Đâu Cho Bằng Tu Nhà
Thờ Cha Kính Mẹ Mới Là Đạo Con

Dương Phủ sinh ra trong một gia đình nghèo. Nhưng ông để hết tâm phụng dưỡng song thân.
Một hôm, ông nghe nói bên đất Thục có ông Vô Tế đại sĩ. Dương Phủ bèn xin từ biệt song thân để đến thụ giáo bậc hiền triết.
Đi được nửa đường, ông gặp một vị lão tăng. vị lão tăng khuyên Dương Phủ: "Gặp được bậc Vô Tế chẳng bằng gặp được Phật".
Dương Phủ hỏi vặn lại: "Phật ở đâu?". Vị lão tăng giải thích: "Nhà ngươi cứ quay trở về, gặp người nào mặc cái áo sắc như thế này, đi đôi dép kiểu như thế này thì chính là Phật đấy".
Dương Phủ nghe lời quay về nhà. Đi dọc đường, ông chẳng gặp ai như thế cả. Về đến nhà thì đã khuya, Dương Phủ gõ cửa gọi mẹ. Người mẹ mừng rỡ, khoác chăn, đi dép ra mở cửa. Bấy giờ, Dương phủ mới chợt nhận ra nơi mẹ mình hình dáng của Đức Phật mà vị lão tăng đã mô tả.
Từ đấy, Dương Phủ mới nhận ra rằng cha mẹ trong nhà chính là Phật.
Thứ nhất thì tu tại gia
Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là đạo con.
Để yêu thương con người một cách trọn vẹn, Chúa đã trở thành một con người. Chúa có cha, có mẹ. Chúa sinh ra trong một gia đình... Con người không chỉ được cứu rỗi một cách lẻ loi, nhưng trong một gia đình. Con người cần có một gia đình để sinh ra, để lớn lên và thành toàn... Tại Nagiaréth, Chúa đã lớn lên trong ân sủng và dáng vóc. Chúa đã vâng phục Thánh Giuse và Mẹ Maria. Chúa đã học đọc, học viết và ngâm nga từng câu kinh thánh với Mẹ Maria. Chúa cũng học cách sử dụng từng dụng cụ trong xưởng mộc của Thánh Giuse.
Trong ba năm sống đời công khai, ngôn ngữ và cách suy nghĩ của Chúa phản ánh phần nào sự giáo dục mà Chúa đã thụ hưởng nơi cha mẹ.
Xin Chúa thánh hóa tất cả mọi gia đình Việt Nam. Xin Chúa ban cho bậc cha mẹ ý thức được trách nhiệm giáo dục của họ. Xin Chúa ban cho con cái lòng hiếu thảo để biết vâng phục, kính yêu và phụng dưỡng cha mẹ, nhất là trong lúc tuổi già của các ngài... Và xin cho mọi gia đình Việt Nam luôn biết tranh đấu để bảo vệ sự hiệp nhất trong gia đình và biến gia đình thành Giáo Hội nhỏ của Chúa.


Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2010


ĐỌC SÁCH TIN MỪNG

Ki-tô hữu đọc Sách Thánh

ĐỌC MÁT-THÊU

(Bài tóm)

ĐỌC SÁCH TIN MỪNG MÁT-THÊU

–––––––––––––––––––––––

A.GIỚI THIỆU VẮN TẮT

Mát-thêu có nhiêu chỉ dẫn về cách sống đạo thích hợp cho mọi thành phần Dân Chúa. Qua Mát-thêu, ta đến với các sách Tin Mừng kia.
 Chủ đích của Mát-thêu.

- Loan báo Đ.Giê-su Na-da-rét, Đấng rao giảng Tin Mừng về Nước Trời

. Là Con Thiên Chúa,

. đến để giải thoát dân Ít-ra-en và cứu độ muôn dân

 Chủ đề của Mát-thêu.

Đề tài chính của Mát-thêu là “Nước Trời”.

Có 5 bài giảng về Nước Trời (Mt 5–7; 10; 13; 18; 24–25),

với câu kết gần giống nhau: "Khi Đ.Giê-su đã … xong ... thì ..."

(Mt 7,28; 11,1; 13,53; 19,1; 26,1).

- Khi rao giảng, Đ.Giê-su cho thấy Tình Thương cứu độ của Thiên Chúa.

- Khi chữa bệnh và trừ ma quỷ, Đ.Giê-su cho thấy Uy Quyền của Thiên Chúa trên mọi người mọi vật

Đó là Nước Trời (hay Triều Đại Thiên Chúa) đã đến.

 Dàn bài tóm lược.

- Mát-thêu có 28 chương, ta chia làm 3 phần, theo 3 thời của Đ.Giê-su; thời giảng dạy chia làm 3 kỳ:

. Thời thơ bé (Mt 1–2).

. Thời giảng dạy (Mt 3–25):

. Thời khổ-nạn-phục-sinh (Mt 26–28).


 Sơ Đồ Mát-thêu.

- Về thời thơ bé, thời giảng dạy, thời khổ-nạn-phục-sinh (k-n-p-s).

Cảm nghiệm được Đ.Giê-su phục sinh và nhờ ơn Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ nghiệm lại Sách Thánh, hiểu cuộc đời Đ.Giê-su cách sâu sắc, nhất là cuộc khổ-nạn-phục-sinh.

- Về thời giảng dạy (Mt 3–25),với 3 kỳ giảng:

B.DIỄN GIẢI GỢI Ý

Đã biết tổng quát về Mát-thêu, điều cần là đọc chính Mát-thêu. Xem phần Diễn Giải Gợi Ý sâu đây và đọc các đoạn Tin Mừng tương ứng để cảm nhận về Mát-thêu.

 Đ.Giê-su là Con Thiên Chúa (Mt 1,18-25).

Hai chương đầu của Mát-thêu nói về thời thơ bé của Đ.Giê-su và cho biết nguồn gốc của Ngài.

- Đoạn 1,28-25 cho biết Đ.Giê-su vừa là con người vừa là Con Thiên Chúa,

. sinh ra bởi quyền năng Chúa Thánh Thần,

. để cứu thoát Ít-ra-en Dân Chúa.

Ngài là “Em-ma-nu-en” là “Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta” để thực hiện Lời Hứa của Thiên Chúa, theo như lời Sách Thánh.

- Thánh Giu-se đón Đ.Ma-ri-a về, và đặt tên cho em bé là Giê-su có nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Quả thật Đ.Giê-su là Đấng Cứu Thế.

Thiên Chúa cũng cần một “Giu-se công chính” (1,19) để mẹ Đấng Cứu Thế được yên thân trong xã hội Do-thái và Con Thiên Chúa có “hộ thường trú” (!) giữa loài người, đồng thời được kể là thuộc dòng họ vua Đa-vít, theo lời hứa.

Thiên Chúa thực hiện chương trình của Người, nhưng qua những con người. Chúng ta, mỗi người mỗi cách, cũng được Thiên Chúa mời gọi góp tay vào công trình của Thiên Chúa vẫn còn đang tiếp diễn.

 Tám mối phúc (Mt 5,1-12).

"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó ...

………………………….....

Phúc thay ai bị bách hại ..."

(Nghe sao có vẻ ngược đời quá! Nhưng đây không phải là những suy tính thường tình của kiếp người vắn vỏi và hạn hẹp).

Phúc là vì có tấm lòng đơn sơ chân thật và vì được tấm lòng Thiên Chúa đoái thương.

. Ba mối phúc mở đầu dành cho những tấm lòng đơn nghèo, hiền lành và khiêm nhượng, chỉ cậy dựa vào Thiên Chúa.

Họ được Thiên Chúa đặc biệt mời gọi đón nhận Tin Mừng về Nước Trời. Đ.Giê-su vốn là người nghèo “hiền lành và khiêm nhượng” như thế (Mt 11,29).

. Ai sống công chính và ước ao cho sự công chính được thực thi (tức là hướng về Thiên Chúa) thì sẽ được thoả lòng.

. Ai biết thương xót (tức là biết nghĩ đến người khác) thì sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Câu chuyện về ngày phán xét chung là một minh họa, Mt 25,31-46.

. Ai có tấm lòng chân thật trong sáng sẽ được gặp Thiên Chúa và sự thân tình của Người.

. Ai xây dựng hoà bình thì chứng tỏ mình là con cái của Cha Trên Trời và là anh em của mọi người.

. Ai bị ngược đãi vì sống công chính, thì đã chia sẻ thân phận của Đ.Giê-su, Đấng Công Chính bị ngược đãi. Nước Trời chắc chắn là gia nghiệp của họ.

Tám Mối Phúc là những điều mà người môn đệ chân chính cảm nghiệm dần dần khi dấn bước theo Đ.Giê-su.

 Đức công chính trong Nước Trời (Mt 5,17-48).

Sống công chính theo tinh thần của Nước Trời là sống bác ái thật lòng. Mấy trường hợp làm ví dụ:

- Về tình người (Mt 5,21-26).

Con người là cao quý hơn mọi thứ ở trần gian. Hại đến mạng sống con người là một trọng tội. Giận ghét hoặc làm khổ làm nhục người khác là phạm bác ái rồi.

Tha thứ, hòa giải là cần thiết và cao trọng hơn lễ vật. Có thông hiệp với nhau mới có thể được hiệp thông với Chúa.

- Về tình yêu nam nữ (Mt 5,27-32).

Chớ ngoại tình.

Có ý định làm chuyện tà dâm là đã phạm tà dâm trong lòng.

Các quyến rũ, cũng như các ý nghĩ và cảm xúc về tình nam nữ vốn là chuyện tự nhiên, tuy có thể trở thành dịp cám dỗ, dịp tội Cần tỉnh táo và thành thực với mình, với người, để loại trừ mọi ý định xấu..

Tự móc mắt, chặt tay là những lối nói để người nghe phải chú ý và quyết tâm.

- Về tình nghĩa vợ chồng (5,31tt).

Tình nghĩa vợ chồng là chuyện trọn đời trọn kiếp.

Hãy nghĩ tới hạnh phúc (bây giờ và mai sau) của vợ chồng, của con cháu và cả xã hội loài người.

- Chớ thề thốt (5,33-37).

Có nói có, không nói không. Thế thôi.

- Chớ trả thù (5,38-42).

Luật Cựu Ước cho phép trả thù theo mức độ mình bị hại: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Đ.Giê-su thì nói: bị vả má phải thì đưa luôn má trái.

Đây là lối nói với hình ảnh rất mạnh để người nghe phải chú ý.

Điều chính là cần vượt qua lòng thù oán.

- Yêu kẻ thù (Mt 5,43-48).

“yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình”.

Như thế mới trở nên con cái của Cha Trên Trời là Đấng hoàn toàn thánh thiện, đoái thương người lành cũng như kẻ dữ.

 Cầu nguyện như Chúa dạy: Kinh Lạy Cha (Mt 6,9-13).

“Lạy Cha”, “Abba” trong ngôn ngữ A-ram là tiếng trẻ con nói với bố. Đ.Giê-su dạy chúng ta hãy đơn sơ thân mật với Thiên Chúa, vì Ngài là cội nguồn vừa là Đấng yêu thương gần gũi chúng ta.

“Lạy Cha chúng con”: khi nhận biết Thiên Chúa là Cha, chúng ta cũng nhận biết mọi người là anh chị em của mình.

“Cha Trên Trời”: không có nghĩa là ở một nơi nào, mà là Cha vô cùng cao cả thánh thiện, vượt trên mọi người cha ở trần gian.

Kinh Lạy Cha gồm có hai phần:

 Phần đầu có 3 nguyện ước: Cho Danh Cha, Nước Cha, Ý Cha.

- “Danh Cha cả sáng” (hoặc “hiển thánh”): Nguyện xin cho loài người tin nhận Ngài là Thiên Chúa duy nhất, chân thật và vô cùng thánh thiện.

- “Nước Cha trị đến”: Nguyện xin cho mọi người nhận biết uy quyền của Chúa trên muôn loài muôn vật và tình thương cứu độ của Người.

- “Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”: Nguyện ước mọi người biết thực thi ý Chúa như lòng Ngài mong mỏi.

 Phần sau là 4 lời cầu xin về những điều chúng ta cần hằng ngày, để sống xứng đáng là con cái Chúa.

- Xin lương thực phần xác phần hồn.

- Xin Chúa tha thứ và cho mình biết thứ tha.

- Xin ơn vượt thắng các chước cám dỗ.

- Xin ơn cứu thoát khỏi sự dữ kẻo bị lạc mất Chúa.

“A-men” gốc là tiếng Do-thái, có nghĩa là: xin cho được như vậy.

Tóm lại, Đ.Giê-su dạy chúng ta:

. Trước hết hãy nghĩ đến Chúa và ơn cứu độ cho muôn người.

. Sau là những điều cần thiết thường ngày của chúng ta.

Kinh Lạy Cha là mẫu mực của mọi lời cầu nguyện.

 Tin Mừng cho những người đơn sơ bé mọn (Mt 11,25-30).

- Đ.Giê-su vui mừng mà ngợi khen Chúa Cha, vì các kẻ đơn sơ bé mọn được yêu thương chăm sóc. Họ được hiểu biết về Nước Trời chứ chẳng cần phải là thông thái tài giỏi.

- Vì lợi ích chung, cần có luật lệ. Nhưng nhiều luật và lệ của đạo Do-thái thời ấy đã trở thành cái ách, cái gánh quá nặng cho những người đơn sơ bé mọn. Đ.Giê-su cảm thương họ.

- Ách và gánh của Đ.Giê-su là đạo lý Tin Mừng, đặt nền tảng trên tình yêu. Nơi Đ.Giê-su, người hiền lành khiêm nhượng sẽ được bình an và hạnh phúc.

“Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.

Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mt 11,29tt).



 Dụ ngôn về người gieo hạt giống Lời Chúa (Mt 13,1-23).

- Công cuộc rao giảng Tin Mừng Nước trời cũng tựa như việc đi gieo giống. Có hạt hư đi, có hạt mang kết quả, có nơi được 30, có nơi 60 hoặc 100. Dụ ngôn lại nhắc nhở ta về cách đón nhận và thực hành Lời Chúa. Lời Chúa như hạt giống tốt. Lòng dạ con người là đất để đón nhận Lời Chúa.

Hãy cẩn thận về cách nghe, cách đón nhận và thực thi Lời Chúa, vì tùy đó mà ta được (hay bị) xếp hạng.

 Bước theo Đ.Ki-tô trong lòng Hội Thánh (16,13-28).

- Đ.Giê-su dẫn các môn đệ đi riêng, xa đám đông, khi đến gần thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Ngài dò hỏi ý dân chúng hiểu về Ngài, rồi hỏi các ông: “còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Câu hỏi này vẫn tiếp tục vang vọng trong lòng lịch sử nhân loại và trong lòng những ai bước theo Ngài.

- Ông Phê-rô tuyên xưng:

“Thầy là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa hằng sống”.

Đ.Giê-su nói với ông:

“Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này,

Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,

và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.

Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời:

dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc,

dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi”.

(Mt 16,18tt; xem thêm 18,18tt).

- Chỗ này được xem là khúc rẽ quan trọng, vì từ đây Đ.Giê-su

bắt đầu nói về con đường khổ-nạn-phục-sinh.

. Con Người sẽ lên Giê-ru-sa-lem, chịu nhiều đau khổ,

bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại.

. Ai muốn theo Thầy, phải quên mình,

vác thập giá mình mà bước theo.

Con đường khổ-nạn-phục-sinh Đ.Giê-su đã đi qua,

Con đường các môn đệ ngày xưa nối gót,

Cũng là con đường của Hội Thánh hôm nay,

Và của chúng ta ngày lại ngày.

 Giáp mặt Chúa (Mt 25,31-46).

- Đ.Giê-su dùng một câu chuyện để nói về việc phán xét muôn dân.

- Điều bất ngờ là ở đây vị xét xử chỉ chú trọng đến cách mỗi người đối xử với người khác, nhất là đối với kẻ nghèo khổ, ốm đau, hoạn nạn, v.v…

Điều bất ngờ thứ hai là người lành cũng như kẻ dữ đều bỡ ngỡ mà thưa lại rằng: “Có bao giờ chúng con gặp thấy Chúa đói khát, hay là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù …”

- Và Chúa cho biết: khi đối xử như thế đó đối với những người gặp khổ đau hoạn nạn, là đã làm cho chính Ngài rồi vậy!

Phải chăng mỗi khi đứng trước một người đang cần sự yêu thương giúp đỡ là ta như đứng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, dù có tin hay không tin Thiên Chúa.

Lý do là bởi “Yêu Chúa và Yêu người” là hai mà một.

Tất cả đạo Chúa gồm tóm chỉ có thế! Mà đó là tất cả!

 Ga-li-lê đất hẹn hò (Mt 28,1-8.16-20).

Nói về Đ.Giê-su sống lại, Mát-thêu dùng một lối văn riêng của Cựu Ước và mấy hình ảnh của văn khải huyền như “Thiên thần Chúa mặt sáng như chớp”, “đất rung chuyển” v.v...

Điều quan trọng nằm trong lời thiên thần nói với các bà:

“[…] Đấng bị đóng đinh không có ở đây, […]

hãy về nói với các môn đệ là Ngài đã sống lại

và đi Ga-li-lê trước, ở đó các ông sẽ gặp Ngài” (Mt 28,57).

Đất Ga-li-lê không được xem trọng, còn bị gọi là đất dân ngoại, đất của dân tứ xứ, vì nhiều phen đã bị nước ngoài xâm chiếm, lại cũng thường có dân ngoại lui tới buôn bán làm ăn.

Hẹn ở Ga-li-lê phải chăng là ở tứ phương, trên đường đời vạn nẻo.

Các môn đệ đến Ga-li-lê, lên núi để gặp lại Đ.Giê-su.

Đ.Giê-su phục sinh long trọng ngỏ lời với các môn đệ:

“[…] Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, […] 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”

(Mt 28,18-20).

Mt 28,16-20 là đoạn văn then chốt, vừa tóm kết sách Mát-thêu vừa tuyên xưng Đ.Giê-su là Đấng Cứu Thế nắm giữ mọi quyền trên trời dưới đất.

Ngài ban lệnh rao giảng Tin Mừng về Nước Trời cho muôn dân và hứa sẽ luôn luôn có mặt cùng Hội-Thánh-Dân-Chúa.

Câu 20 gợi lại Mt 1,23: “Đ.Giê-su Phục sinh” là “Em-ma-nu-En” (Thiên Chúa ở cùng chúng ta).

* * *


- Mát-thêu có nhiều lời chỉ bảo về cách sống đạo, thích hợp cho mọi thành phần Dân Chúa. Qua Mát-thêu ta dễ đến với các sách Tin Mừng kia.

 Chủ đích: - Loan báo Đ.Giê-su Na-da-rét,

Đấng rao giảng Tin Mừng về Nước Trời,

. là Con Thiên Chúa,

. đến giải thoát Ít-ra-en và cứu độ muôn dân.

 Dàn Bài Tóm Lược:

Mát-thêu có 28 chương, ta chia làm 3 phần theo 3 thời của Đ.Giê-su Ki-tô; thời giảng dạy chia làm 3 kỳ:

. Thời thơ bé (1–2)

. Thời giáng dạy (3–25):

. Thời khổ-nạn-phục-sinh (26–28)



 Mấy đoạn để nghiền ngẫm cách riêng:

. Mt 5,1–7,29 : Bài giảng trên núi: Sống công chính theo tinh thần của Nước Trời.

. Mt 6,5-15 : Kinh Lạy Cha: (Cầu nguyện như Đ.Ki-tô dạy).

. Mt 13,1-52 : Hạt giống Lời Chúa cho mọi người.

. Mt 16,13-28 : Bước theo Đ.Ki-tô trong lòng Hội thánh.

. Mt 28,16-20 : Ga-li-lê đất hẹn hò!



Câu nằm lòng:

“Hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân […]

dạy họ vâng giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.

và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”

(Mt 28,19-20).



Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

TÓM TẮT THÁNH KINH


TÓM TẮT THÁNH KINH
I. CỰU ƯỚC: 46 cuốn

a. Sách lịch sử: 21 cuốn, 5 cuốn đầu gọi là Ngũ kinh

Sáng thế (50), Xuất hành (40), Lê-vi (27), Dân số (36), Đệ nhị luật (34), Giô-suê (24), Thủ lãnh (21), Rút (4), 1 Sa-mu-en (31), 2 Sa-mu-en (24), 1 Vua (22), 2 Vua (25), 1 Sử biên niên (29), 2 Sử biên niên (36), Ét-ra (10), Nơ-khe-mi-a (13), Tô-bi-a (14), Giu-đi-tha (16), Ét-te (10), 1 Ma-ca-bê (16), 2 Ma-ca-bê (15).

b. Sách giáo huấn: 7 cuốn

Gióp (42), Thánh vịnh (150), Châm ngôn (31), Giảng viên (12), Diễm ca (8), Khôn ngoan (19), Huấn ca (51).

c. Sách tiên tri: 18 cuốn: 6 cuốn đầu ngôn sứ lớn và 12 cuốn sau ngôn sứ nhỏ

I-sai-a (66), Giê-rê-mi-a (52), Ai ca (5), Ba-rúc (6), Ê-dê-ki-en (48), Đa-ni-en (14), Hô-sê (14), Giô-en (4), A-mốt (9), Ô-va-đi-a (14 câu), Giô-na (4), Mi-kha (7), Na-khum (3), Kha-ba-cúc (3), Xô-phô-ni-a (3), Khác-gai (2), Da-ca-ri-a (14), Ma-la-khi (3).

II. TÂN ƯỚC: 27 cuốn, chia làm 3 loại

a. Lịch sử: 5 cuốn: 4 Tin mừng và sách Cộng vụ tông đồ

Mát-thêu (28), Má-cô (16), Lu-ca (24), Gio-an (21) và Công vụ tông đồ (28).

b. Sách Giáo huấn: 21 cuốn: 14 thư đầu của Thánh Phaolô và 7 Thư chung

Rô-ma (16), 1 Cô-rin-tô (16), 2 Cô-rin-tô ( 13), Ga-lát (6), Ê-phê-sô (6), Phi-líp-phê (4), Cô-lô-xê (4), 1 Thê-xa-lô-ni-ca (5), 2 Thê-xa-lô-ni-ca (3), 1 Ti-mô-thê (6), 2 Ti-mô-thê (4), Ti-tô (3), Phi-lê-môn (25 câu), Do-thái (13), Gia-cô-bê (5), 1 Phêrô (5), 2 Phêrô (3), 1 Gio-an (5), 2 Gio-an (13 câu), 3 Gio-an (15 câu), Giu-đa (25 câu)

c. Sách tiên tri: 1 cuốn

Khải huyền của Thánh Gioan(22).

III. NỘI DUNG CÁC SÁCH

1. Sách Sáng thế (St): Trình bày lịch sử sơ khai của vũ trụ và nguồn gốc loài người. làm khởi điểm cho hành trình lịch sử cứu độ, mà Thiên Chúa đã từng bước thực hiện nơi dân tộc Do Thái là dân riêng của Người.

2. Sách Xuất hành (Xh): Sách xuất hành kể lại việc Thiên Chúa giải phóng dân Israel thoát khỏi cảnh nô lệ Ai Cập; cuộc hành trình trong sa mạc và việc Thiên Chúa kết giao ước với dân riêng của Người trên núi Sinai.

3. Sách Lêvi (Lv): Trình thuật những nghi thức tế tự, và phong chức các tư tế; những luật lệ liên quan đến việc thanh sạch và uế tạp; nghi thức về ngày đại xá tội và lời chúc lành, chúc dữ; định rõ những điều kiện để chuộc người, vật và các thứ khác hiến dâng cho Thiên Chúa.

4. Sách Dân số (Ds): Ghi lại những biến cố của cuộc hành trình trong sa mạc, cuộc khởi hành trên núi Sinai được sửa soạn bởi việc kiểm tra dân số; việc đánh chiếm các dân trên đường tiến về đất hứa và việc định cư tại đất Canaan.

5. Sách Đệ Nhị Luật (Đnl): Đây là bản dân luật và luật tôn giáo do Môsê soạn tác. Trong sách này ghi lại một phần các lề luật được ban trên núi Sinai; đồng thời nhắc lại những biến cố chính trong sa mạc và mặc cho nó một ý nghĩa tôn giáo, hầu thôi thúc dân trung tín với Thiên Chúa.

6. Sách Giô-suê (Gs): Kể lại cuộc đời của một vị tướng tên là Giô-suê, từ lúc lãnh đạo dân đánh chiếm Đất hứa và phân chia đất đai; cho đến những diễn từ cuối đời của Giô-suê, nhất là đại hội tại Sikhem.

7. Sách Thủ lãnh (Tl): Sách kể lại việc các chi tộc Israel lập cư ở Canaan, nhất là giới thiệu về hoạt động của những thẩm phán đã được Thiên Chúa chọn cách đặc biệt để hướng dẫn và giải thoát dân riêng của Người.

8. Sách Rút (R): Kể về câu chuyện một thiếu phụ người Mô-áp tên là Rút, chồng ba quê ở Belem sang lập cư ở Mô-áp. Sau khi chồng chết bà đã trở về Giuđa với mẹ chồng là bà No-ê-mi và đã cưới Bo-as một người bà con của chồng. Câu chuyện trên đây xây dựng với một mục đích ca ngợi lòng tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng xót thương cả người ngoại bang. Sự kiện Rút được nhìn nhận là tổ mẫu của Đavít đã đem lại cho quyển sách một giá trị đặc biệt, và thánh Má-thêu đã ghi tên bà Rút vào gia phả của Chúa Giêsu.

9. Sách I Sa-mu-en (Sm): Nói về sự ra đời của vị thẩm phán cuối cùng trong dân tộc Israel có tên gọi là Samuel, mở màng cho chế độ vương quyền; đồng thời tường thuật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi sự đe doạ của dân Philitinh và dân A-ma-lếch.

10. Sách II Sa-mu-en (Sm): Ghi lại những kết quả chính trị của triều đại Đavít: quân Philitinh bị đẩy lui vĩnh viễn, việc thống nhất đất nước được hoàn toàn, Giêrusalem trở thành kinh đô chính trị và tôn giáo của vương quốc.

11. Sách I Vua (1 V): Sách các vua ghi lại lịch sử của một dân tộc được Thiên Chúa cứu thoát; đồng thời cũng cho thấy thái độ vô ơn của dân được tuyển chọn. Sự sụp đổ của dân tộc xem ra đã làm hỏng kế hoạch của Thiên Chúa; nhưng người ta thấy luôn luôn có một nhóm trung tín không chịu quỳ gối trước Ba-an, một số sót của Si-on trung tín với giao ước của Giavê.

12. Sách II Vua (2 V): Ghi lại những nét thăng trầm của lịch sử Israel, sự xuất hiện can thiệp của các tiên tri đối với các vua, giúp cho dân chúng thức tỉnh tinh thần quốc gia và cuộc cải cách tôn giáo. Sự sụp đổ Giêrusalem và đợt đi đầy thứ hai.

13. Sách I và II Sử biên niên (Sb): Là cuốn sách ghi lại những sự việc của Do Thái giáo vào thời kỳ sau lưu đầy trước năm 300. Tác giả là một người Lêvi nhắc lại cho những người dân cùng thời rằng: đời sống của dân tộc tuỳ thuộc vào sự trung thành với Thiên Chúa. Việc trung thành này hệ tại ở việc tuân giữ lề luật của Chúa và bằng việc phụng thờ Thiên Chúa với lòng đạo đức chân thật.

14. Sách Ét-ra (Er) và Nơ-khe-mi-a (Nkm): Là sách miêu tả sự trở về Giêrusalem giữa những đổ nát sau cuộc lưu đày, việc xây dựng lại thành thánh và cộng đoàn. Hơn thế nữa, tác giả xác tín rằng đền thờ là dấu chỉ hiện hữu của Thiên Chúa. Cho nên, con người phải biết lo chu toàn việc phụng thờ Thiên Chúa. Ét-ra và Nơ-khe-mi-a là hai vị lãnh đạo đã khôi phục lại Giêrusalem, đền thờ, luật Môsê, việc phụng tự và sự trung thành với nòi giống.

15. Sách Tô-bi-a (Tb): Là một câu chuyện gia đình Ninivê được Thiên Chúa quan phòng yêu thương. Qua đó tác giả muốn khai triển một ý niệm rất cao trong tinh thần Kitô giáo về hôn nhân: nếu tin tưởng và sống theo đường lối của Thiên Chúa thì sẽ được Ngài che chở và yêu thương.

16. Sách Giu-đi-tha (Gđt): Sách Giu-đi-tha là câu chuyện về một cuộc toàn thắng của dân Israel trên quân thù là đế quốc Assur, qua sự can thiệp của một người đàn bà tên là Giu-đi-tha. Sự toàn thắng của Giu-đi-tha là phần thưởng cho lời cầu xin và việc tuân giữ luật thanh sạch. Sàch đã được viết tại Phalêtin vào giữa thế kỷ thứ II trước công nguyên.

17. Sách Ét-te (Et): Kể chuyện một cuộc giải thoát nhờ một người đàn bà tên là Ét-te. Dân Do thái tại đế quốc Batư bi đe doạ tiêu diệt do sự ghen ghét của quan Đại Thần tên là Aman, nhưng đã được cứu thoát nhờ sự can thiệp của Ét-te; một người đồng hương đã trở thành Hoàng Hậu được người cậu là Marđôkê hướng dẫn. Một sự đảo lộn tình thế diễn ra: Aman bị treo cổ, Marđôkê thay chỗ, người Do thái tàn sát kẻ thù.

18. Sách I Ma-ca-bê (I Mcb): Tác giả Macabê là một người Do thái nhiệt thành với lòng tin vào Thiên Chúa, đã xem những khốn cùng và thất bại của Israel như một trừng phạt tội lỗi mà lòng xót thương của Thiên Chúa muốn dùng sửa trị dân; đồng thời tác giả coi những thành công của các nhân vật là do sự trợ giúp của Thiên Chúa.

19. Sách II Ma-ca-bê (II Mcb): Không phải là một tác phẩm tiếp theo của Ma-ca-bê I. Sách kể lại cuộc chiến tranh giải phóng do Giu-đa Ma-ca-bê lãnh đạo, được ơn thiêng liêng nâng đỡ và toàn thắng nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa. Sách Ma-ca-bê II quả quyết về vấn đề người chết sống lại, những hình phạt đời sau, lời cầu nguyện cho kể chết và công trạng của những người tử vì đạo.

20. Sách Gióp (G): Sách kể về cuộc đời của một con người có tên là Gióp, đã bị thử thách trăm triều: trước sự tấn công của Satan, của gia đình, của bạn bè. Nhưng ông đã vượt thắng được tất cả nhờ có lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa tình yêu.

21. Thánh vịnh (Tv): Thánh vịnh là những lời cầu nguyện của Cựu ước. Chính Thiên Chúa đã gợi lên những tâm tình con cái Người phải có đối với người, và cũng là những lời con người phải dùng để ngõ cùng Thiên Chúa.

22. Sách Châm ngôn (Cn): Nói về việc Thiên Chúa ân thưởng sự chân thật, bác ái, sự trong sạch của lòng trí, và đức khiêm nhường; đồng thời Chúa cũng xử phạt những ai sống giả dối, ích kỷ, kêu ngạo và lòng trí xấu xa. Nguồn gốc và tóm lược của tất cả các nhân đức là sự khôn ngoan.

23. Sách Giảng viên (Gv): Ghi lại những lời của Cohelet con của Đavít vua Gierusalem. Trước những hiểu biết, của cải, tình yêu và sự sống; tất cả điều làm cho con người thất vọng khi đứng trước sự chết. Nhưng Cohelet không ngỡ ngàng trước thế thái nhân tình đó, vì mọi sự đều do Thiên Chúa qui định và con người phải đón nhận từ bàn tay Ngài những thử thách cũng như những vui mừng; con người phải tuân giữ các lệnh truyền và kính sợ Thiên Chúa.

24. Sách Diễm ca (Dc): Được xếp vào loại sách khôn ngoan, vì đã đề cập tới như những sách khôn ngoan khác, thân phận của con người. Đến một trong những khía cạnh cốt thiết của con người. Theo cách diễn tả của mình. Diễm ca giáo dục người đọc về sự tốt lành và phẩm giá của tình yêu giữa người nam và người nữ.

25. Sách Khôn ngoan (Kn): Salômôn được kể là tác giả của sách. Ong đã nêu lên vai trò của khôn ngoan trong vận mệnh con người và so sánh số phận của người công chính với kẻ gian ác, trong cuộc sống sau khi chết. Ong cũng trình bày về nguồn, bản chất của khôn ngoan và những cách thức thu thập khôn ngoan. Cuối cùng ông đã ca ngợi hành động khôn ngoan của Thiên Chúa trong lịch sử dân Israel.

26. Sách Huấn ca (Hc): Là quyển sách nói về sự khôn ngoan của Thiên Chúa do Ben Sira rao giảng. Khởi đầu của khôn ngoan là kính sợ Thiên Chúa, khôn ngoan đem lại tươi trẻ và hạnh phúc. Ben Sira tin ở sự thưởng phạt, cảm thấy tầm quan trọng bi đát của giờ chết; nhưng ông chưa biết Thiên Chúa sẽ trả lại cho mọi người theo hành động của họ thế nào? Tác giả đã đồng nhất khôn ngoan với lề luật được Môsê loan báo.

27. Sách Ngôn sứ Isaia (Is): Tiên tri Isaia luôn ý thức về sứ vụ ngôn sứ của Chúa trao cho ông trong đền thờ. Ong sống niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa là Đấng Thánh, Đấng Quyền Năng, là Vua. Ong luôn hy vọng vào “số sót” trong dòng tộc Đavít sẽ được Thiên Chúa yêu thương cứu chuộc.

28. Sách Ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Gr): Đây là một bộ tự thuật của tiên tri Giêrêmia đã mạnh mẽ giống tiếng cảnh tỉnh dân tộc của mình phải trung thành với Thiên Chúa không được chạy theo các thần ngoại lai; đồng thời ông cũng can đảm vạch rõ những lỗi lầm bất tài của vua Israel. Mặc dù sứ vụ Giêrêmia đã thất bại lúc sinh tiền, nhưng dung mạo của ông vẫn không ngừng lớn lên sau khi ông chết.

29. Sách Ai-ca (Ac): Sách Ai-ca dành cho ngày kỷ niệm đền thở bị phá huỷ; gồm các bài “điếu tang”, than khóc cánh. Đây là những lời than khóc cảnh hoang tàn và bi đát của thành Giêrusalem. Chính lòng trông cậy kiên vững vào Thiên Chúa trong nỗi đau đớn tuyệt vọng của con người làm nên giá trị bất hữu của những bản ai ca này.

30. Sách Ê-dê-ki-en (Ed): Đây là bộ sách ghi lại cuộc đời và sự nghiệp của một vị tiên tri sống trong thời kỳ lưu đầy. Qua những thử thách kinh nghiệm riêng tư mà Thiên Chúa đã gởi đến cho ông, cũng là những dấu chỉ cho dân Israel. Ong loan báo Đấng Mêssia sẽ đến thưởng phạt xét xử tuỳ theo việc làm của mỗi người.

31. Sách Đa-ni-en (Đn): Sách có mục đích nâng đỡ lòng tin và niềm cậy trông của các người Do Thái bị Antiôkhô Ephiphanê bách hại. Đanien và các bạn của ông đã trải qua những thử thách như họ; nhưng các ông đã vượt thắng và những kẻ ra tay bách hại đã phải nhìn nhận quyền năng Thiên Chúa đích thực.

32. Sách Ba-rúc (Br): Cho chúng ta biết về đời sống tôn giáo của người Do thái ở các cộng đoàn hải ngoại và ảnh hưởng mạnh mẽ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đối với dân Do thái sau biến cố thảm khốc mất thành thánh.

33. Sách A-mốt (Am): A-mốt là một mục tử tại Tơqoa được Thiên Chúa sai đi nói tiên tri dưới thời Giêrôbôam II (783-743). Nhân danh Thiên Chúa, Amốt đã lên án cuộc sống của những người dân thành thị, những bất công xã hội, những nghi lễ không hồn. Thiên Chúa sẽ sửa phạt và Ngài sẽ cứu thoát nhà Giacóp.

34. Sách Hô-se (Hs): Hô-sê quê ở phía bắc sinh sống cùng thời với Amốt. Hô-sê là người đầu tiên đã diễn tả những liên lạc giữa Giavê và Israel trong ngôn ngữ của một cuộc hôn nhân. Ong nhấn mạnh về tình thương Thiên Chúa không được dân Người đón nhận hay đã được đáp lại bằng những bội phản.

35. Sách Mi-kha (Mk): Là người Giuđa quê ở Môrêshêr ông thi hành sứ vụ tiên tri trong những năm 712-701. Mikha có một ý thức rõ rệt về ơn gọi tiên tri của mình, ông loan báo những tai ương xảy tới do tội tôn giáo và tội luân lý. Nhưng Mikha vẫn hé mở hy vọng về sự cứu thoát của Giavê.

36. Sách Xô-phô-ni-a (Xp): đã rao giảng dưới triều đại Yôsya 640-609. Ong loan báo về hình phạt Giavê sẽ giáng xuống trên dân Israel về lỗi lầm tôn giáo và luân lý do lòng kiêu ngạo và bất phục tùng; nhằm đưa dân về lại con đường vâng phục và khiêm tốn. Sự cứu rỗi chỉ được hứa ban cho một “số sót” khiêm tốn.

37. Sách Na-khum (Nk): Thi hành sứ vụ tiên tri trong khi dân Israel đánh chiếm Ninivê 612. Sự sụp đổ của Ninivê là một án Thiên Chúa phạt kẻ phá hoại kế đồ của Người. Lời tiên tri nói thay lòng căm tức của Israel đối với kẻ thù truyền kiếp là Assur; đồng thời nói về sự công chính và lòng tin của dân đối với Thiên Chúa.

38. Sách Kha-ba-cúc (Kb): Thi hành sứ vụ tiên tri đồng thời với Nakhum và Giêrêmia, Habacúc đã đem lại một nét mới mẻ trong cách giáo lý của các tiên tri; Thiên Chúa toàn năng chuẩn bị cho sự toàn thắng cuối cùng của kẻ chính trực công chính sẽ được sống bằng sự trung tín của mình.

39. Sách Khác-gai (Kg): Nói những lời khích lệ với dân Israel trong việc khôi phục lại đất nước sau thời lưu đầy vào khoảng tháng 8 tới tháng 12 năm 520. Việc xây dựng đền thờ sẽ đem lại kỷ nguyên của thịnh vượng và là điều kiện để Giavê ngự đến ở với dân Người. Như thế thời cứu chuộc cánh chung đã hé mở.

40. Sách Da-ca-ri-a (Dcr): Viết sách vào khoảng từ tháng 10 năm 520 đến tháng 2 năm 519. Ong chú trọng đến việc tái thiết đền thờ; nhưng ông cũng nhấn mạnh đến việc tái thiết quốc gia bằng sự tinh sạch và luân lý. Dacaria cũng loan báo cách bí nhiệm về sự phục hưng của nhà Đavít và về Đấng bị đâm thâu.

41. Sách Ma-la-khi (Ml): Thi hành sứ vụ tiên tri vào những năm 514-445. Malakhi nói đến hững lỗi lầm về tế tự và tín hữu; nạn hôn nhân dị biệt và ly dị đồng thời ông cũng loan báo về ngày Giavê sẽ thanh luyện những kẻ gian ác và ban phần thưởng cho những người công chính.

42. Sách Ô-va-đi-a (Ôv): Là sách ngắn nhất trong các sách tiên tri chỉ có 21 câu. Ong loan báo về hình phạt E-đom và lời hứa Thiên Chúa sẽ cứu độ trong ngày chung thẩm.

43. Sách Giô-en (Ge): Xuất hiện sau thời lưu đầy, ông loan báo nạn cào cào châu chấu sẽ tàn phá Giuđa đưa đến một nghi lễ phụng vụ tang chay và khẩn nài; ông cũng nói về cuộc phán xét các dân tộc và sự toàn thắng của dân Israel.

44. Sách Gio-na (Gn): Sách ghi lại câu chuyện của một tiên tri bất tuân muốn tránh sứ vụ tiên tri của mình. Sách có mục đích giáo huấn cho những đe doạ là những biểu hiện của lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng chỉ chờ một dấu hối cải để ban ơn tha thứ.

45. Tin Mừng Mathêu (Mt): Nói về gốc tích và những năm tháng đầu đời của Chúa Giêsu và Ngài đi rao giảng Tin mừng Nước Trời, các mầu nhiệm Nước Trời cũng như Nước đã gần đến. Cuối cùng là nói đến cuộc thương khó và phục sinh của Ngài.

46. Tin Mừng Macô (Mc): Tường thuật lại sự kiện Giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu; nhắc đến sứ mạng dọn đường của Gioan Tẩy Giả và việc Chúa Giêsu chịu phép rửa và chịu cám dỗ. Ngoài ra, Thánh sử Mácô nhấn mạnh đến sự tương quan của Chúa Giêsu với mọi người và hé mở mầu nhiệm Con Người Đức Kitô, đến trần gian diễn tả tình yêu qua biến cố tử nạn và phục sinh.

47. Tin Mừng Luca (Lc): Tin Mừng Thánh Luca đặc biệt nhấn mạnh đến lòng thương xót, bao dung, tha thứ của Đức Kitô. Đặc biệt là các giáo huấn của Chúa Giêsu về việc ăn năn sám hối, cầu nguyện và sống bác ái yêu thương; đồng thời Luca cũng gieo rắc niềm vui trước lời loan báo ơn cứu độ, trước các phép lạ, những lần Chúa Giêsu hiện ra; Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội. Đặc biệt nơi Luca chan chứa hoan lạc vì ơn cứu độ đã có được ngày hôm nay.

48. Tin Mừng Gioan (Ga): Khác với Tin Mừng nhất lãm, Gioan muốn chứng minh Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa đã hiện hữu ngay từ lúc khởi đầu, là nguồn mạch sự sống của nhân loại, là ánh sáng thật đến giữa thế gian, là Đấng mạc khải cho nhân loại biết khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa Cha. Thêm vào đó, Chúa Giêsu sử dụng ngôn ngữ của con người trong quyền năng của một Thiên Chúa, để mở cho nhân loại thấy tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, cũng như sự sống đời đời được khai mở nơi chính Ngài.

49. Sách Công vụ tông đồ (Cv): Tường thuật những hoạt động truyền giáo của hai vị thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô. Vì vậy, có thể so sánh Công vụ tông đồ là sách lịch sử về Hội thánh sơ khai; đồng thời tác giải yêu cầu đế quốc Rôma nhìn nhận Kitô giáo được tự do về mặt tôn giáo và có quyền bình đẳng với các tôn giáo khác trong đế quốc.

50. Thư gởi tín hữu Rôma (Rm): Đang khi rao giảng ở Côrintô thánh Phaolô được ông Aquila và bà Picilia cho biết về tình trạng của giáo đoàn Rôma. Thánh nhân đã viết thư gởi cho tín hữu với nội dung: Tin mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ mọi người, trước là người Do thái sau là người Hy lạp và ngài nêu lên một số điểm thực hành cho các tín hữu.

51. Thư I & II gởi tín hữu Cô-rin-tô (Cr) Thánh Phaolô thành lập giáo đoàn Côrintô trong chuyến chuyền giáo thứ hai khoảng năm 50-52. Vì đức tin kitô hữu còn non trẻ cần tìm một mảnh đất mầu mở Kitô giáo để có thể lớn lên. Thánh Phaolô đã hướng dẫn các tín hữu ý thức hội nhập đức tin kitô giáo vào nền văn hoá ngoại giáo.

52. Thư gởi tín hữu Ga-lát (Gl): Sau khi thánh Phaolô rời Galát, các tín hữu gốc Do thái từ Giêrusalem đến làm lung lạc đức tin của anh em tín hữu gốc lương dân. Họ đòi buộc các tín hữu phải giữ luật Môsê, nhất là luật cắt bì. Cho nên, thánh Phaolô viết thư biện minh về sứ vụ tông đồ của mình và tuyên bố ơn công chính không do làm việc luật dạy, nhưng là bởi lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô, đồng thời ngài khuyên các tín hữu bám chặt vào Chúa Giêsu sống theo ơn Chúa Thánh Thần, nhất là sống bác ái.

53. Thư gởi tín hữu Ê-phê-sô (Ep): Thánh Phaolô trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa thực hiện chương trình cứu độ, mà Người đã sắp đặt từ bao đời trước. Mầu nhiệm quy tụ muôn loài dưới quyền Thủ Lãnh là Đức Kitô. Kêu gọi chiêm ngưỡng công trình Thiên Chúa thực hiện qua Đức Kitô và khuyên đọc giả sống kết hiệp với Đức Kitô.

54. Thư gởi tín hữu Phi-li-phê (Pl): Đây là một trong những bức thư chan chứa tình cảm. Thánh Phaolô viết trong lúc Ngài bị cầm tù, ngài vui mừng và hoan lạc trong cảnh tù đầy của mình; đồng thời Thánh nhân khuyên giáo đoàn Philiphê sống đức tin vững vàng, hiệp nhất với nhau và đề phòng những người không trung tín với Tin mừng.

55. Thư gởi tín hữu Cô-lô-xê (Cl): Trong khi thánh Phaolô đang bị cầm tù ở Rôma, nhận được tin giáo đoàn Côlôxê đang bị đe doạ đời sống đức tin. Thánh nhân viết thư đề cao quyền tối thượng của Chúa Kitô và khuyên nhủ các tín hữu đề cao cảnh giác đối với những người gieo rắc những sai lầm. Ngài nhắc lại một số điểm cần thực hiện trong gia đình, cộng đoàn và xã hội.

56. Thư I gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (Tx): Vào khoảng năm 50 khi thánh nhân ở Côrintô, nhận được tin giáo đoàn Thêxalônica đã gặp những điều cần giải quyết về luân lý cũng như giáo lý Chúa quang lâm. Với những lời đậm đà tình thương nhưng rất đanh thép, đã củng cố được đức tin non yếu của tín hữu, đồng thời khẳng định về giáo lý Chúa quan lâm cho những người Do thái cứng lòng tin.

57. Thư II gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (Tx): Thánh Phaolô viết thư trấn an và chỉnh đốn cộng đoàn về việc chờ đợi Chúa quang lâm. Thánh nhân khẳng định phải có những dấu hiệu báo trước khi Chúa đến ; những cuộc khủng bố bắt bớ các kitô hữu; tiếp theo là bỏ đạo quy mô, sau cùng là tên gian ác xuất hiện.

58. Thư I gởi ông Timôthê (Tm): Sau khi ra khỏi tù ở Rôma đã viết thư này gởi cho người đồ đệ thân tín mà thánh nhân đã đặt lên thay ngài coi sóc giáo đoàn. Nội dung lá thư đưa ra những chỉ dẫn giúp Timôthê tổ chức, điều khiển cộng đoàn và khuyên trung thành với giáo lý.

59. Thư II gởi ông Ti-mô-thê (Tm): Viết vào năm 67 gởi cho ông Timôthê. Đây là một lá thư mục vụ, thôi thúc những ai có trách nhiệm trong cộng đoàn hãy kiên trì chịu thử thách, hăng hái rao giảng Tin mừng và chống lại những người dạy giáo lý sai lạc với luân lý, tín lý, niềm tin.

60. Thư gởi ông Ti-tô (Tt): Trước những bức xúc của người lãnh đạo cộng đoàn, thánh Phaolô viết thư gởi cho Titô, một tín hữu gốc Do thái và bạn đồng hành với Phaolô. Trong lá thư mục vụ, thánh nhân nhấn mạnh những đức tính cần có của người đứng đầu cộng đoàn; đồng thời nhắc nhở các tín hữu về bổn phận của họ.

61. Thư gởi ông Phi-lê-môn (Plm): Ong Philêmôn là một nhân vật quan trọng ở Côlôxê, là người khá giả đã trở lại theo đức tin Kitô giáo, biết đem của cải và uy tín để giúp đỡ cộng đoàn. Ong Phaolô quý mến và gọi ông là cộng sự viên. Trong thư ông Phaolô tế nhị, không áp đặt, không truyền lệnh ông Philêmôn nhận người nô lệ ăn cắp Onênximô như một người nhà trong tình yêu Đức Kitô.

62. Thư gởi tín hữu Do thái (Dt): Thời gian đầu cộng đoàn kitô hữu gốc Do thái (Do thái giáo qua Kitô giáo) gặp khủng hoảng, đức tin hoang mang. Tác giả viết thư này nhằm trấn an, củng cố đức tin, nền tảng đạo đức và sự canh tân đời sống đức tin chính là Đức Kitô.

63. Thư của Thánh Gia-cô-bê (Gc): Thư này nhằm mục đích đến luân lý, thánh nhân nhấn mạnh đến cách cư xử giữa người với nhau, khuyên giữ miệng lưỡi, kiên tâm bền chí khi bị thử thách để chứng minh niềm tin, đồng thời coi trọng người nghèo.

64. Thư thứ I của Thánh Phêrô (1 Pr): Giữa lúc các Kitô hữu bị lưu vong sang đế quốc Rôma, số tân tòng ngày một đông, thánh Phêrô viết thư nhằm khuyên nhủ, động viên và hướng dẫn đời sống đức tin cho những anh chị em tín hữu gia nhập đạo; đồng thời ngài nhấn mạnh bổn phận người Kitô hữu với Hội Thánh.

65. Thư thứ II của Thánh Phêrô (2 Pr): Qua những thăng trầm đức tin, tác giả hướng đến các tác giả sơ khai khám phá và sống theo chân lý, đó là: người tín thông phần vào sự sống của Chúa Kitô, được Chúa dạy dỗ qua các ngôn sứ, tông đồ.

66. Thư I, II, III của Thánh Gioan (Ga): Khi thấy giáo đoàn tín hữu sơ khai một số tác gieo rắc những học thuyết sai lạc. Thánh Gioan viết thư 1 và 2 nhằm chống lại những người lạc đạo đó; đồng thời giúp các tín hữu đề phòng những người theo thuyết ngộ đạo, bằng việc sống bác ái yêu thương. Trong lá thư thứ 3 tác giả nói đến cách sống và cư xử của người tín hữu.

67. Thư của Thánh Giuđa (Gđ): Khi các tín hữu Do thái trở lại đạo Công giáo, vì niềm tin còn non yếu, họ bị gieo rắc những tư tưởng ngược với niềm tin Kitô giáo. Trước tình hình đó, Thánh Giuđa đã viết bức thư dặn dò anh em tín hữu sơ khai đừng nghe theo một số người xấu, đã len lỏi vào các cộng đoàn, gieo rắc lối sống và tư tưởng sai lạc.

68. Sách Khải huyền (Kh): Giữa lúc các tín hữu sơ khai đang bị hoàng đế Nê-rô bách hại. Một số các tín hữu chán nản thất vọng trước cơn bách hại và dường như muốn đầu hàng. Tác giả đã dùng thể văn khải huyền với loại ngôn ngữ biểu tượng và đầy hình tượng; ông đã khuyên nhủ các tín hữu phải sống dũng cảm, củng cố đức tin, niềm trông cậy và lòng trung thành của họ với Đức Kitô và thời đau khổ sắp chấm dứt.