Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

EMMAU


Emmaus

Nói đến những người không nhà không cửa, người ta thường nhắc đến cha Henri Groués quen được gọi tắt là cha Pierre, người đã sáng lập cộng đồng Emmaus nhằm giúp những người bần cùng tự tay xây dựng cuộc sống của họ.
Phong trào cộng đồng Emmaus khởi sự bằng một căn nhà đổ nát ở vòng đai của thành phố Paris vào hồi đệ nhị thế chiến. Những người khách đầu tiên của tổ ấm này là các thanh thiếu niên bụi đời, những người không nhà không cửa, hoặc các tù nhân vừa được phóng thích.
Câu nói đầu tiên của cha Pierre với những người mới đặt chân đến cộng đồng là : "Bạn không được may mắn, nhưng tôi cần bạn để giúp đỡ những người khác...". Dù khổ sở đến đâu, ai cũng muốn người khác nhìn nhận giá trị của mình, ai cũng muốn trở thành hữu ích cho người khác. Đó là niềm tin mà cha Pierre luôn khơi dậy nơi những người đã mất tất cả hy vọng.
Cha Pierre đặt tên Emmaus cho cộng đồng của Ngài là để nhớ lại câu chuyện của hai người môn đệ Chúa Giêsu trong buổi chiều Phục Sinh. Cũng như hai người môn đệ này, giữa lúc họ tưởng như mất tất cả, Chúa Giêsu đã hiện đến mang lại niềm tin cho họ. Cũng thế, cha Pierre và những người bạn đầu tiên của Ngài đã tìm gặp được hứng khởi, niềm tin yêu giữa những mất mát ê chề của cuộc sống.
Tạo lại niềm hy vọng vào cuộc sống đó là khẩu lệnh của cha Pierre, và xây dựng lại niềm hy vọng đó từ những đổ nát, mất mát. Chính vì thế mà cộng đồng Emmaus chủ trương đi thu nhặt lại các đồ phế thải, các vật dụng cũ kỹ để chế biến và bán lại, như một sản phẩm cho chính tay mình làm nên.
Hiện nay phong trào đã có mặt tại 50 quốc gia trên thế giới với khoảng 290 cộng đồng. Tất cả mọi người trong cộng đồng đều sống với niềm hy vọng từ những đổ nát và mất mát trong cuộc sống.
Tin Mừng của Thánh Luca thuật lại rằng, buổi chiều hôm đó, có hai người môn đệ của Chúa Giêsu lên đường đi Emmaus, trở về làng cũ của họ.
Cái chết của Chúa Giêsu là một chấm hết đối với họ: hết mộng công hầu khanh tướng, hết giấc mơ của một nước Israel thịnh vượng, hết mọi hy vọng. Trở về làng cũ tức là trở về với thất vọng ê chề. Nhưng cũng chính lúc đó, Chúa Giêsu đã hiện ra với họ, cái chết mang một ý nghĩa mới, mất mát đã trở thành khởi đầu của lợi lộc, thất bại trở thành khởi điểm của thành công, buồn phiền đã biến thành vui mừng hân hoan... Ánh sáng Phục Sinh của Chúa Giêsu đã mặc cho mọi biến cố của cuộc sống một ý nghĩa mới. Tin tưởng lạc quan đã trở thành nhân đức cơ bản của đời Kitô.
Ở bất cứ nơi đâu và ở bất cứ thời đại nào, sau một lần đổ nát, người ta thường hát lên điệp khúc: Hãy xây dựng lại từ đổ nát!
Đó là niềm tin mà hơn bất cứ lúc nào chúng ta cần phải bám lấy... Bạn đang sầu khổ vì những mất mát ê chề trong cuộc sống ư? Bạn đang quằn quại trong đau khổ của thể xác và tinh thần ư? Bạn đang cảm thấy mình ở dưới vực thẳm của tội lỗi ư?
Chúa Giêsu của thành Emmaus đang nói với bạn: đừng thất vọng, Ngài đang đồng hành với bạn, và với Ngài, bạn có thể xây dựng được một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012



Bình An Trong Tâm Hồn

Purna, một môn đệ của Đức Thích Ca, xin thầy được phép đi đến Sronapa-Ranta, một vùng còn bán khai để tiếp tục tu luyện và truyền đạo. Nhân lời xin này, người ta ghi lại cuộc đối thoại giữa hai thầy trò như sau: Đức Thích Ca cho biết ý kiến: "Nhân dân vùng Sronapa-Ranta còn rất man di. Họ nổi tiếng thô bạo và tàn ác. Bẩm tính của họ là hiếu chiến, thích gây sự, thích cãi vã, đánh nhau và làm hại kẻ khác. Lúc đến đó, nếu họ nghi kỵ con, dùng những lời thô bạo để nói xấu, mắng chửi và vu khống con, con sẽ nghĩ thế nào?". Purna thưa: "Nếu thật sự xảy ra như vậy, thì con nghĩ là: dân chúng tại đây thật tốt lành và thân thiện, vì họ chỉ lăng mạ con chứ không dùng vũ lực, không đánh đập hay ném đá con". Đức Thích Ca tiếp lời: "Nhưng nếu họ hành hung và dùng đá ném con, thì con sẽ nghĩ thế nào?". Purna thưa: "Trong trường hợp đó, con vẫn nghĩ dân chúng vùng Sronapa-Ranta thật tốt lành và thân thiện, vì họ không cột con vào cột để đánh đòn và không dùng khí giới sắc bén để sát hại con".
Nghe môn đệ xác quyết như thế, Đức Phật không khỏi ngạc nhiên; Ngài hỏi tiếp: "Nhưng nếu họ thật sự ra tay giết con, con nghĩ thế nào trước khi nhắm mắt lìa đời?". Không cần suy nghĩ lâu, Purna đáp: "Nếu họ hại đến tính mạng con, con vẫn nghĩ họ là những người tốt lành và thân thiện, vì họ muốn giải thoát con khỏi thân xác hay hư nát này". Nghe đến đây, Đức Thích Ca bảo: "Purna, con đã tu tâm dưỡng tính đến nơi đến chốn để có được sự ôn hòa, kiên nhẫn hơn người. Thầy nghĩ con có thể sinh sống và truyền đạo cho dân Sronapa-Ranta. Hãy ra đi và giúp họ dần dần giải thoát khỏi bẩm tính hiếu chiến và bất nhân như chính con đã tự giải thoát mình khỏi những thiên kiến và những ý nghĩ hận thù, ghen ghét".
Thiết nghĩ tự tạo cho mình sự bình an trong tâm hồn là bổn phận của Kitô hữu chúng ta. Và theo kinh nghiệm của tu sĩ Purna trong câu chuyện trên, để tạo cho mình nền hòa bình này, chúng ta phải cố gắng tự giải thoát mình khỏi mọi thiên kiến, nghi kỵ cũng như hằng ngày phải thanh luyện tâm hồn khỏi những ý nghĩ hận thù, ghen ghét.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Kiếm Ve Sầu


02 Tháng Tư
Ve Sầu Kêu Ve Ve

"Ve sầu kêu ve ve, suốt mùa hè. Đến kỳ gió bấc thổi, nguồn cơn thật bối rối...".
Trên đây là bốn câu đầu trong bài thơ mà cụ Nguyễn Văn Vỉnh đã dịch từ chuyện ngụ ngôn "Con ve và con kiến" của thi sĩ Pháp La Fontaine.
Ở Việt Nam chúng ta cũng như tại nhiều nước trên thế giới, cứ mỗi độ hè về là ve sầu xuất hiện và kêu inh ỏi.
Theo sinh vật học thì có đến 23 loại ve sầu, mỗi loại có chu kỳ khác nhau: loại 2 năm, loại 3 năm, loại 17 năm v.v... Trước khi xuất hiện trên mặt đất, ve đã làm kiếp nhộng sống ngầm dưới đất đến 17 năm. Ngay sau khi ra khỏi trứng, nhộng đã chui xuống đất và sống yên lặng 17 năm.
Sinh vật học còn cho rằng, khi chu kỳ 17 năm chấm dứt, các con nhộng này có thể nghe được một tín hiệu bí mật kêu chúng ra khỏi lòng đất và hàng trăm triệu con nhộng đã đáp lại tiếng kêu gọi đó, bò lên mặt dất, tìm cây cối hay vật gì thẳng gốc với mặt đất để bám chặt vào, rồi lột vỏ, biến thành con ve với hai cánh dài để bay... Nhưng cuộc sống của ve rất ngắn ngủi: vì chúng chỉ sống được năm tuần lễ vừa đủ để làm một công tác duy nhất là đẻ trứng rồi chết.
Kiếp sống của con ve sầu có thể làm cho chúng ta liên tưởng đến cuộc đời của Chúa Giêsu: trong 33 năm sống kiếp con người, Ngài đã sống ẩn dật đến 30 năm.
Nếu đối với kiếp ve sầu, 17 năm sống dưới đất như nhộng không phải là vô ích, thì với Chúa Giêsu, 30 năm sống ẩn dật của Ngài cũng mang một ý nghĩa và giá trị đặc biệt. Kiếp sống lam lũ của người thợ mộc, những vất vả trong cuộc sống hằng ngày: tất cả đều mặc cho cuộc sống con người một ý nghĩa.
Chúa Giêsu đến để chiếu rọi ánh sáng vào cuộc sống con người. Ánh sáng đầu tiên đã được chiếu rọi vào cuộc sống chúng ta chính là những năm tháng ẩn dật ấy của Chúa Giêsu. Trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ hiểu dược dù nghèo hèn đến đâu, dù tối tăm đến đâu, công việc từng ngày của chúng ta là những đóng góp vào công cuộc cứu rỗi của Chúa. Con ve sầu phải tôi luyện trong suốt 17 năm trời mới có thể xuất hiện để sinh ra một mầm sống mới. Những lam lũ vất vả từng ngày của người Kitô chúng ta cũng có sức mang lại mầm sống mới cho rất nhiều người.
Ước gì ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu rọi vào cuộc sống của chúng ta, để, dù vất vả lao nhọc và đau khổ từng ngày, chúng ta luôn vui vẻ tiến bước vì tin rằng cuộc sống của chúng ta đang mang lại sức sống cho nhiều người.

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

LẼ SỐNG 4



LẼ SỐNG 4

01 Tháng Tư
Tu Đâu Cho Bằng Tu Nhà
Thờ Cha Kính Mẹ Mới Là Đạo Con

Dương Phủ sinh ra trong một gia đình nghèo. Nhưng ông để hết tâm phụng dưỡng song thân.
Một hôm, ông nghe nói bên đất Thục có ông Vô Tế đại sĩ. Dương Phủ bèn xin từ biệt song thân để đến thụ giáo bậc hiền triết.
Đi được nửa đường, ông gặp một vị lão tăng. vị lão tăng khuyên Dương Phủ: "Gặp được bậc Vô Tế chẳng bằng gặp được Phật".
Dương Phủ hỏi vặn lại: "Phật ở đâu?". Vị lão tăng giải thích: "Nhà ngươi cứ quay trở về, gặp người nào mặc cái áo sắc như thế này, đi đôi dép kiểu như thế này thì chính là Phật đấy".
Dương Phủ nghe lời quay về nhà. Đi dọc đường, ông chẳng gặp ai như thế cả. Về đến nhà thì đã khuya, Dương Phủ gõ cửa gọi mẹ. Người mẹ mừng rỡ, khoác chăn, đi dép ra mở cửa. Bấy giờ, Dương phủ mới chợt nhận ra nơi mẹ mình hình dáng của Đức Phật mà vị lão tăng đã mô tả.
Từ đấy, Dương Phủ mới nhận ra rằng cha mẹ trong nhà chính là Phật.
Thứ nhất thì tu tại gia
Thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa.
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là đạo con.
Để yêu thương con người một cách trọn vẹn, Chúa đã trở thành một con người. Chúa có cha, có mẹ. Chúa sinh ra trong một gia đình... Con người không chỉ được cứu rỗi một cách lẻ loi, nhưng trong một gia đình. Con người cần có một gia đình để sinh ra, để lớn lên và thành toàn... Tại Nagiaréth, Chúa đã lớn lên trong ân sủng và dáng vóc. Chúa đã vâng phục Thánh Giuse và Mẹ Maria. Chúa đã học đọc, học viết và ngâm nga từng câu kinh thánh với Mẹ Maria. Chúa cũng học cách sử dụng từng dụng cụ trong xưởng mộc của Thánh Giuse.
Trong ba năm sống đời công khai, ngôn ngữ và cách suy nghĩ của Chúa phản ánh phần nào sự giáo dục mà Chúa đã thụ hưởng nơi cha mẹ.
Xin Chúa thánh hóa tất cả mọi gia đình Việt Nam. Xin Chúa ban cho bậc cha mẹ ý thức được trách nhiệm giáo dục của họ. Xin Chúa ban cho con cái lòng hiếu thảo để biết vâng phục, kính yêu và phụng dưỡng cha mẹ, nhất là trong lúc tuổi già của các ngài... Và xin cho mọi gia đình Việt Nam luôn biết tranh đấu để bảo vệ sự hiệp nhất trong gia đình và biến gia đình thành Giáo Hội nhỏ của Chúa.


Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2010


ĐỌC SÁCH TIN MỪNG

Ki-tô hữu đọc Sách Thánh

ĐỌC MÁT-THÊU

(Bài tóm)

ĐỌC SÁCH TIN MỪNG MÁT-THÊU

–––––––––––––––––––––––

A.GIỚI THIỆU VẮN TẮT

Mát-thêu có nhiêu chỉ dẫn về cách sống đạo thích hợp cho mọi thành phần Dân Chúa. Qua Mát-thêu, ta đến với các sách Tin Mừng kia.
 Chủ đích của Mát-thêu.

- Loan báo Đ.Giê-su Na-da-rét, Đấng rao giảng Tin Mừng về Nước Trời

. Là Con Thiên Chúa,

. đến để giải thoát dân Ít-ra-en và cứu độ muôn dân

 Chủ đề của Mát-thêu.

Đề tài chính của Mát-thêu là “Nước Trời”.

Có 5 bài giảng về Nước Trời (Mt 5–7; 10; 13; 18; 24–25),

với câu kết gần giống nhau: "Khi Đ.Giê-su đã … xong ... thì ..."

(Mt 7,28; 11,1; 13,53; 19,1; 26,1).

- Khi rao giảng, Đ.Giê-su cho thấy Tình Thương cứu độ của Thiên Chúa.

- Khi chữa bệnh và trừ ma quỷ, Đ.Giê-su cho thấy Uy Quyền của Thiên Chúa trên mọi người mọi vật

Đó là Nước Trời (hay Triều Đại Thiên Chúa) đã đến.

 Dàn bài tóm lược.

- Mát-thêu có 28 chương, ta chia làm 3 phần, theo 3 thời của Đ.Giê-su; thời giảng dạy chia làm 3 kỳ:

. Thời thơ bé (Mt 1–2).

. Thời giảng dạy (Mt 3–25):

. Thời khổ-nạn-phục-sinh (Mt 26–28).


 Sơ Đồ Mát-thêu.

- Về thời thơ bé, thời giảng dạy, thời khổ-nạn-phục-sinh (k-n-p-s).

Cảm nghiệm được Đ.Giê-su phục sinh và nhờ ơn Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ nghiệm lại Sách Thánh, hiểu cuộc đời Đ.Giê-su cách sâu sắc, nhất là cuộc khổ-nạn-phục-sinh.

- Về thời giảng dạy (Mt 3–25),với 3 kỳ giảng:

B.DIỄN GIẢI GỢI Ý

Đã biết tổng quát về Mát-thêu, điều cần là đọc chính Mát-thêu. Xem phần Diễn Giải Gợi Ý sâu đây và đọc các đoạn Tin Mừng tương ứng để cảm nhận về Mát-thêu.

 Đ.Giê-su là Con Thiên Chúa (Mt 1,18-25).

Hai chương đầu của Mát-thêu nói về thời thơ bé của Đ.Giê-su và cho biết nguồn gốc của Ngài.

- Đoạn 1,28-25 cho biết Đ.Giê-su vừa là con người vừa là Con Thiên Chúa,

. sinh ra bởi quyền năng Chúa Thánh Thần,

. để cứu thoát Ít-ra-en Dân Chúa.

Ngài là “Em-ma-nu-en” là “Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta” để thực hiện Lời Hứa của Thiên Chúa, theo như lời Sách Thánh.

- Thánh Giu-se đón Đ.Ma-ri-a về, và đặt tên cho em bé là Giê-su có nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Quả thật Đ.Giê-su là Đấng Cứu Thế.

Thiên Chúa cũng cần một “Giu-se công chính” (1,19) để mẹ Đấng Cứu Thế được yên thân trong xã hội Do-thái và Con Thiên Chúa có “hộ thường trú” (!) giữa loài người, đồng thời được kể là thuộc dòng họ vua Đa-vít, theo lời hứa.

Thiên Chúa thực hiện chương trình của Người, nhưng qua những con người. Chúng ta, mỗi người mỗi cách, cũng được Thiên Chúa mời gọi góp tay vào công trình của Thiên Chúa vẫn còn đang tiếp diễn.

 Tám mối phúc (Mt 5,1-12).

"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó ...

………………………….....

Phúc thay ai bị bách hại ..."

(Nghe sao có vẻ ngược đời quá! Nhưng đây không phải là những suy tính thường tình của kiếp người vắn vỏi và hạn hẹp).

Phúc là vì có tấm lòng đơn sơ chân thật và vì được tấm lòng Thiên Chúa đoái thương.

. Ba mối phúc mở đầu dành cho những tấm lòng đơn nghèo, hiền lành và khiêm nhượng, chỉ cậy dựa vào Thiên Chúa.

Họ được Thiên Chúa đặc biệt mời gọi đón nhận Tin Mừng về Nước Trời. Đ.Giê-su vốn là người nghèo “hiền lành và khiêm nhượng” như thế (Mt 11,29).

. Ai sống công chính và ước ao cho sự công chính được thực thi (tức là hướng về Thiên Chúa) thì sẽ được thoả lòng.

. Ai biết thương xót (tức là biết nghĩ đến người khác) thì sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Câu chuyện về ngày phán xét chung là một minh họa, Mt 25,31-46.

. Ai có tấm lòng chân thật trong sáng sẽ được gặp Thiên Chúa và sự thân tình của Người.

. Ai xây dựng hoà bình thì chứng tỏ mình là con cái của Cha Trên Trời và là anh em của mọi người.

. Ai bị ngược đãi vì sống công chính, thì đã chia sẻ thân phận của Đ.Giê-su, Đấng Công Chính bị ngược đãi. Nước Trời chắc chắn là gia nghiệp của họ.

Tám Mối Phúc là những điều mà người môn đệ chân chính cảm nghiệm dần dần khi dấn bước theo Đ.Giê-su.

 Đức công chính trong Nước Trời (Mt 5,17-48).

Sống công chính theo tinh thần của Nước Trời là sống bác ái thật lòng. Mấy trường hợp làm ví dụ:

- Về tình người (Mt 5,21-26).

Con người là cao quý hơn mọi thứ ở trần gian. Hại đến mạng sống con người là một trọng tội. Giận ghét hoặc làm khổ làm nhục người khác là phạm bác ái rồi.

Tha thứ, hòa giải là cần thiết và cao trọng hơn lễ vật. Có thông hiệp với nhau mới có thể được hiệp thông với Chúa.

- Về tình yêu nam nữ (Mt 5,27-32).

Chớ ngoại tình.

Có ý định làm chuyện tà dâm là đã phạm tà dâm trong lòng.

Các quyến rũ, cũng như các ý nghĩ và cảm xúc về tình nam nữ vốn là chuyện tự nhiên, tuy có thể trở thành dịp cám dỗ, dịp tội Cần tỉnh táo và thành thực với mình, với người, để loại trừ mọi ý định xấu..

Tự móc mắt, chặt tay là những lối nói để người nghe phải chú ý và quyết tâm.

- Về tình nghĩa vợ chồng (5,31tt).

Tình nghĩa vợ chồng là chuyện trọn đời trọn kiếp.

Hãy nghĩ tới hạnh phúc (bây giờ và mai sau) của vợ chồng, của con cháu và cả xã hội loài người.

- Chớ thề thốt (5,33-37).

Có nói có, không nói không. Thế thôi.

- Chớ trả thù (5,38-42).

Luật Cựu Ước cho phép trả thù theo mức độ mình bị hại: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Đ.Giê-su thì nói: bị vả má phải thì đưa luôn má trái.

Đây là lối nói với hình ảnh rất mạnh để người nghe phải chú ý.

Điều chính là cần vượt qua lòng thù oán.

- Yêu kẻ thù (Mt 5,43-48).

“yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình”.

Như thế mới trở nên con cái của Cha Trên Trời là Đấng hoàn toàn thánh thiện, đoái thương người lành cũng như kẻ dữ.

 Cầu nguyện như Chúa dạy: Kinh Lạy Cha (Mt 6,9-13).

“Lạy Cha”, “Abba” trong ngôn ngữ A-ram là tiếng trẻ con nói với bố. Đ.Giê-su dạy chúng ta hãy đơn sơ thân mật với Thiên Chúa, vì Ngài là cội nguồn vừa là Đấng yêu thương gần gũi chúng ta.

“Lạy Cha chúng con”: khi nhận biết Thiên Chúa là Cha, chúng ta cũng nhận biết mọi người là anh chị em của mình.

“Cha Trên Trời”: không có nghĩa là ở một nơi nào, mà là Cha vô cùng cao cả thánh thiện, vượt trên mọi người cha ở trần gian.

Kinh Lạy Cha gồm có hai phần:

 Phần đầu có 3 nguyện ước: Cho Danh Cha, Nước Cha, Ý Cha.

- “Danh Cha cả sáng” (hoặc “hiển thánh”): Nguyện xin cho loài người tin nhận Ngài là Thiên Chúa duy nhất, chân thật và vô cùng thánh thiện.

- “Nước Cha trị đến”: Nguyện xin cho mọi người nhận biết uy quyền của Chúa trên muôn loài muôn vật và tình thương cứu độ của Người.

- “Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”: Nguyện ước mọi người biết thực thi ý Chúa như lòng Ngài mong mỏi.

 Phần sau là 4 lời cầu xin về những điều chúng ta cần hằng ngày, để sống xứng đáng là con cái Chúa.

- Xin lương thực phần xác phần hồn.

- Xin Chúa tha thứ và cho mình biết thứ tha.

- Xin ơn vượt thắng các chước cám dỗ.

- Xin ơn cứu thoát khỏi sự dữ kẻo bị lạc mất Chúa.

“A-men” gốc là tiếng Do-thái, có nghĩa là: xin cho được như vậy.

Tóm lại, Đ.Giê-su dạy chúng ta:

. Trước hết hãy nghĩ đến Chúa và ơn cứu độ cho muôn người.

. Sau là những điều cần thiết thường ngày của chúng ta.

Kinh Lạy Cha là mẫu mực của mọi lời cầu nguyện.

 Tin Mừng cho những người đơn sơ bé mọn (Mt 11,25-30).

- Đ.Giê-su vui mừng mà ngợi khen Chúa Cha, vì các kẻ đơn sơ bé mọn được yêu thương chăm sóc. Họ được hiểu biết về Nước Trời chứ chẳng cần phải là thông thái tài giỏi.

- Vì lợi ích chung, cần có luật lệ. Nhưng nhiều luật và lệ của đạo Do-thái thời ấy đã trở thành cái ách, cái gánh quá nặng cho những người đơn sơ bé mọn. Đ.Giê-su cảm thương họ.

- Ách và gánh của Đ.Giê-su là đạo lý Tin Mừng, đặt nền tảng trên tình yêu. Nơi Đ.Giê-su, người hiền lành khiêm nhượng sẽ được bình an và hạnh phúc.

“Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.

Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mt 11,29tt).



 Dụ ngôn về người gieo hạt giống Lời Chúa (Mt 13,1-23).

- Công cuộc rao giảng Tin Mừng Nước trời cũng tựa như việc đi gieo giống. Có hạt hư đi, có hạt mang kết quả, có nơi được 30, có nơi 60 hoặc 100. Dụ ngôn lại nhắc nhở ta về cách đón nhận và thực hành Lời Chúa. Lời Chúa như hạt giống tốt. Lòng dạ con người là đất để đón nhận Lời Chúa.

Hãy cẩn thận về cách nghe, cách đón nhận và thực thi Lời Chúa, vì tùy đó mà ta được (hay bị) xếp hạng.

 Bước theo Đ.Ki-tô trong lòng Hội Thánh (16,13-28).

- Đ.Giê-su dẫn các môn đệ đi riêng, xa đám đông, khi đến gần thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Ngài dò hỏi ý dân chúng hiểu về Ngài, rồi hỏi các ông: “còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Câu hỏi này vẫn tiếp tục vang vọng trong lòng lịch sử nhân loại và trong lòng những ai bước theo Ngài.

- Ông Phê-rô tuyên xưng:

“Thầy là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa hằng sống”.

Đ.Giê-su nói với ông:

“Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này,

Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,

và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.

Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời:

dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc,

dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi”.

(Mt 16,18tt; xem thêm 18,18tt).

- Chỗ này được xem là khúc rẽ quan trọng, vì từ đây Đ.Giê-su

bắt đầu nói về con đường khổ-nạn-phục-sinh.

. Con Người sẽ lên Giê-ru-sa-lem, chịu nhiều đau khổ,

bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại.

. Ai muốn theo Thầy, phải quên mình,

vác thập giá mình mà bước theo.

Con đường khổ-nạn-phục-sinh Đ.Giê-su đã đi qua,

Con đường các môn đệ ngày xưa nối gót,

Cũng là con đường của Hội Thánh hôm nay,

Và của chúng ta ngày lại ngày.

 Giáp mặt Chúa (Mt 25,31-46).

- Đ.Giê-su dùng một câu chuyện để nói về việc phán xét muôn dân.

- Điều bất ngờ là ở đây vị xét xử chỉ chú trọng đến cách mỗi người đối xử với người khác, nhất là đối với kẻ nghèo khổ, ốm đau, hoạn nạn, v.v…

Điều bất ngờ thứ hai là người lành cũng như kẻ dữ đều bỡ ngỡ mà thưa lại rằng: “Có bao giờ chúng con gặp thấy Chúa đói khát, hay là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù …”

- Và Chúa cho biết: khi đối xử như thế đó đối với những người gặp khổ đau hoạn nạn, là đã làm cho chính Ngài rồi vậy!

Phải chăng mỗi khi đứng trước một người đang cần sự yêu thương giúp đỡ là ta như đứng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, dù có tin hay không tin Thiên Chúa.

Lý do là bởi “Yêu Chúa và Yêu người” là hai mà một.

Tất cả đạo Chúa gồm tóm chỉ có thế! Mà đó là tất cả!

 Ga-li-lê đất hẹn hò (Mt 28,1-8.16-20).

Nói về Đ.Giê-su sống lại, Mát-thêu dùng một lối văn riêng của Cựu Ước và mấy hình ảnh của văn khải huyền như “Thiên thần Chúa mặt sáng như chớp”, “đất rung chuyển” v.v...

Điều quan trọng nằm trong lời thiên thần nói với các bà:

“[…] Đấng bị đóng đinh không có ở đây, […]

hãy về nói với các môn đệ là Ngài đã sống lại

và đi Ga-li-lê trước, ở đó các ông sẽ gặp Ngài” (Mt 28,57).

Đất Ga-li-lê không được xem trọng, còn bị gọi là đất dân ngoại, đất của dân tứ xứ, vì nhiều phen đã bị nước ngoài xâm chiếm, lại cũng thường có dân ngoại lui tới buôn bán làm ăn.

Hẹn ở Ga-li-lê phải chăng là ở tứ phương, trên đường đời vạn nẻo.

Các môn đệ đến Ga-li-lê, lên núi để gặp lại Đ.Giê-su.

Đ.Giê-su phục sinh long trọng ngỏ lời với các môn đệ:

“[…] Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, […] 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”

(Mt 28,18-20).

Mt 28,16-20 là đoạn văn then chốt, vừa tóm kết sách Mát-thêu vừa tuyên xưng Đ.Giê-su là Đấng Cứu Thế nắm giữ mọi quyền trên trời dưới đất.

Ngài ban lệnh rao giảng Tin Mừng về Nước Trời cho muôn dân và hứa sẽ luôn luôn có mặt cùng Hội-Thánh-Dân-Chúa.

Câu 20 gợi lại Mt 1,23: “Đ.Giê-su Phục sinh” là “Em-ma-nu-En” (Thiên Chúa ở cùng chúng ta).

* * *


- Mát-thêu có nhiều lời chỉ bảo về cách sống đạo, thích hợp cho mọi thành phần Dân Chúa. Qua Mát-thêu ta dễ đến với các sách Tin Mừng kia.

 Chủ đích: - Loan báo Đ.Giê-su Na-da-rét,

Đấng rao giảng Tin Mừng về Nước Trời,

. là Con Thiên Chúa,

. đến giải thoát Ít-ra-en và cứu độ muôn dân.

 Dàn Bài Tóm Lược:

Mát-thêu có 28 chương, ta chia làm 3 phần theo 3 thời của Đ.Giê-su Ki-tô; thời giảng dạy chia làm 3 kỳ:

. Thời thơ bé (1–2)

. Thời giáng dạy (3–25):

. Thời khổ-nạn-phục-sinh (26–28)



 Mấy đoạn để nghiền ngẫm cách riêng:

. Mt 5,1–7,29 : Bài giảng trên núi: Sống công chính theo tinh thần của Nước Trời.

. Mt 6,5-15 : Kinh Lạy Cha: (Cầu nguyện như Đ.Ki-tô dạy).

. Mt 13,1-52 : Hạt giống Lời Chúa cho mọi người.

. Mt 16,13-28 : Bước theo Đ.Ki-tô trong lòng Hội thánh.

. Mt 28,16-20 : Ga-li-lê đất hẹn hò!



Câu nằm lòng:

“Hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân […]

dạy họ vâng giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.

và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”

(Mt 28,19-20).